Giáo sư Park Jong-su, thuộc Khoa Luật sau đại học Đại học Korea, đồng thời là Chủ tịch Hiệp hội Luật thuế Hàn Quốc, phát biểu tại tọa đàm về hệ thống thuế tài sản số năm 2027 ở tòa nhà Quốc hội, Yeouido, Seoul, ngày 3/9. Ảnh: Digital Today

Hàn Quốc đang xem xét lại khung thuế đối với tài sản số trước thời điểm áp dụng từ ngày 1/1/2027, trong bối cảnh nhiều chuyên gia cho rằng cách xếp toàn bộ thu nhập liên quan vào diện “thu nhập khác” không còn phù hợp. Các ý kiến tại một tọa đàm ngày 3/9 cũng nhấn mạnh nhu cầu sớm hoàn thiện hạ tầng dữ liệu để phục vụ công tác thu thuế đối với giao dịch trên sàn trong nước, sàn nước ngoài và ví cá nhân.

Phát biểu tại tọa đàm “Rà soát hệ thống đánh thuế tài sản số năm 2027” tổ chức tại tòa nhà Quốc hội ở Yeouido, Seoul, Giáo sư Park Jong-su thuộc Khoa Luật sau đại học Đại học Korea cho biết hệ thống phân loại thu nhập, hạ tầng thực thi và phương pháp định giá để tính thuế hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục rà soát.

Sự kiện do văn phòng nghị sĩ Moon Jin-seok thuộc Đảng Dân chủ, liên minh các sàn giao dịch tài sản số DAXA và Hiệp hội Luật thuế Hàn Quốc đồng tổ chức.

Theo Luật Thuế thu nhập hiện hành, từ ngày 1/1/2027, thu nhập từ chuyển nhượng hoặc cho vay tài sản số sẽ chịu thuế riêng theo diện “thu nhập khác”. Lãi và lỗ được bù trừ trong năm, sau đó khấu trừ mức 2,5 triệu won; phần còn lại chịu thuế thu nhập 20%. Tính cả thuế thu nhập địa phương, thuế suất thực tế là 22%. Người nộp thuế sẽ kê khai và nộp khoản thu nhập phát sinh trong năm 2027 vào tháng 5/2028.

Theo Giáo sư Park, quy định hiện nay chỉ giới hạn đối tượng chịu thuế ở hoạt động chuyển nhượng và cho vay nên khó bao quát hết các hình thức giao dịch tài sản số ngày càng đa dạng. Ông cho rằng giao dịch mua bán và hoán đổi có thể được xếp vào nhóm chuyển nhượng, nhưng các hoạt động như khai thác, staking, cung cấp thanh khoản, airdrop hay hard fork hiện vẫn chưa rõ nên được xem là chuyển nhượng hay cho vay.

Từ đó, ông đề xuất xây dựng cách tiếp cận theo hướng “thuế thu nhập đầu tư tài sản số”, trong đó thu nhập được phân loại lại dựa trên bản chất kinh tế của từng giao dịch. Cụ thể, lợi nhuận từ mua bán, hoán đổi và thanh toán có thể được xếp vào thu nhập chuyển nhượng; khoản thu từ lending và tiền gửi có thể xếp vào thu nhập lãi; còn các khoản phân phối có tính chất cổ tức sẽ được xếp vào thu nhập cổ tức.

Với hoạt động khai thác diễn ra thường xuyên và mang tính kinh doanh, ông cho rằng nên xếp vào thu nhập kinh doanh; trong khi các khoản thưởng phát sinh đơn lẻ có thể được ghi nhận là thu nhập khác. Riêng những giao dịch có nhiều đặc tính đan xen như staking hay cung cấp thanh khoản, việc tính thuế cần tách theo từng cấu phần.

Giáo sư Park nhấn mạnh hệ thống thuế nên được thiết kế xoay quanh chức năng pháp lý và kinh tế của từng giao dịch, thay vì dựa vào tên blockchain, giao thức hay token. Theo ông, các loại thu nhập có chức năng kinh tế và khả năng chịu thuế tương đồng cần được xử lý như nhau, đồng thời phải hạn chế tối đa chênh lệch bất lợi chỉ vì khác biệt về hình thức giao dịch.

Một vấn đề khác được nêu tại tọa đàm là sự khác biệt trong cách đánh thuế giữa đầu tư trực tiếp vào tài sản số và giao dịch ETF tài sản số niêm yết ở nước ngoài. Theo đó, lợi nhuận từ việc nhà đầu tư trong nước mua bán ETF tài sản số ở nước ngoài được tính là thu nhập chuyển nhượng cổ phiếu nước ngoài, trong khi lợi nhuận từ giao dịch trực tiếp tài sản số lại bị xếp vào diện thu nhập khác.

Ngoài ra, về nguyên tắc, lãi chuyển nhượng của cổ đông nhỏ lẻ đối với cổ phiếu niêm yết trong nước không bị đánh thuế. Trong khi đó, với tài sản số, phần thu nhập hằng năm vượt 2,5 triệu won vẫn phải nộp thuế, bất kể quy mô đầu tư. Theo các chuyên gia, khác biệt này có thể tiếp tục làm dấy lên tranh luận về tính công bằng.

Khâu thu thập và liên thông thông tin phục vụ quản lý thuế cũng được xem là một thách thức lớn. Do giá vốn được tính theo phương pháp bình quân gia quyền trên cơ sở tổng hợp theo từng cá nhân cư trú, nhà đầu tư sử dụng đồng thời nhiều sàn trong và ngoài nước cùng ví cá nhân sẽ phải tự tập hợp toàn bộ lịch sử giao dịch.

Đối với tài sản nắm giữ từ trước năm 2027, giá vốn được xác định theo mức cao hơn giữa giá thị trường tại ngày 31/12/2026 và giá mua thực tế. Tuy nhiên, với những tài sản chưa hình thành thị trường giao dịch hoặc thiếu dữ liệu giao dịch trong quá khứ, việc chứng minh giá vốn sẽ không dễ dàng.

Giáo sư Park đề xuất áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn với các giao dịch có thể xác định được bên chi trả. Với các trường hợp khó xác định chủ thể chi trả hoặc không khả thi về mặt kỹ thuật, cơ quan quản lý có thể bổ sung bằng cơ chế kê khai và quyết toán thuế.

Ông cũng cho rằng cần xây dựng cơ chế kê khai tích hợp tương tự như đối với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu nước ngoài, theo đó doanh nghiệp nộp bảng kê giao dịch, còn cơ quan thuế thực hiện hậu kiểm.

Các diễn giả khác tham dự tọa đàm cũng đồng tình rằng việc phân loại thu nhập theo từng loại giao dịch cần đi cùng với quá trình hoàn thiện hạ tầng đánh thuế.

Giáo sư Kim Gap-soon, Khoa Kế toán Đại học Dongguk, cho biết việc xếp tài sản số vào diện thu nhập khác có liên quan đến cách phân loại tài sản vô hình theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế.

Tuy nhiên, ông nhận định tài sản số khác với quyền nhãn hiệu hay quyền sáng chế ở chỗ được giao dịch lặp lại và có biến động giá lớn, nên khó có thể xem là tương đồng về bản chất kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá thu nhập cần dựa trên cấu trúc giao dịch và quyền kiểm soát kinh tế.

Trong khi đó, Giáo sư Kim Kyung-ha thuộc Khoa Tài chính - Kế toán - Thuế của Đại học Cyber Hanyang đề xuất xây dựng hệ thống dữ liệu chuẩn hóa, để khi tài sản số được chuyển giữa các sàn hoặc giữa các ví cá nhân, thông tin về thời điểm mua, giá vốn và các chi phí liên quan cũng được chuyển theo.

Ông lưu ý giao dịch trên sàn nước ngoài và ví cá nhân khó được cơ quan thuế nắm bắt hơn so với giao dịch trên sàn trong nước. Vì vậy, cần có biện pháp bổ sung để tránh việc gánh nặng thuế dồn chủ yếu vào người dùng trong nước.

Nhà nghiên cứu lập pháp Kim Tae-kyung thuộc Cơ quan Nghiên cứu lập pháp Quốc hội cũng chỉ ra rằng lãi từ chuyển nhượng tài sản số hiện được xếp vào diện thu nhập khác, nên không thuộc cơ chế đánh thuế chuyển nhượng theo phương thức cộng dồn đối với tài sản được tặng cho giữa vợ chồng và người thân trực hệ. Theo ông, vấn đề này cần được rà soát trước khi áp thuế, nhằm đánh giá rủi ro né thuế thông qua hình thức tặng cho trong gia đình.

Từ khóa

#tài sản số #thuế tài sản số #thu nhập khác #ETF tài sản số #Hàn Quốc #DAXA
Copyright © DigitalToday. All rights reserved. Unauthorized reproduction and redistribution are prohibited.