Hàn Quốc sẽ tái cấu trúc hoạt động R&D tại các viện nghiên cứu công lập theo hướng bám sát nhiệm vụ cốt lõi của từng đơn vị sau khi bãi bỏ cơ chế nghiên cứu theo dự án PBS. Cùng với đó, cơ chế đãi ngộ sẽ được chuyển sang gắn với thành tích, còn đầu mối chuyển giao công nghệ TLO sẽ được kiện toàn để hỗ trợ các thương vụ chuyển giao quy mô lớn và hoạt động khởi nghiệp deeptech.
Ngày 8/9, Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin Hàn Quốc cho biết Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NST) đã thông qua “định hướng triển khai chi tiết giai đoạn hậu PBS nhằm đưa các viện nghiên cứu công lập trở thành cơ quan nghiên cứu đại diện quốc gia” tại phiên họp bất thường lần thứ 247, tổ chức ở Hội trường Khoa học và Công nghệ tại Seoul.
Theo Bộ, biện pháp này nhằm giảm bớt xáo trộn phát sinh sau khi PBS bị bãi bỏ, đồng thời sớm ổn định hệ thống nghiên cứu mới tại các viện. Cơ quan này cho biết từ tháng 12 năm ngoái đến tháng 6 năm nay, tiến trình cải tổ hệ thống nghiên cứu và vận hành của các viện đã được thúc đẩy từng bước theo hướng lấy nhiệm vụ làm trung tâm.
Theo kế hoạch, mỗi viện sẽ xác định rõ nhiệm vụ cốt lõi, tập trung nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ quốc gia và công bố nội dung này trong năm nay. Lộ trình cùng danh mục R&D phục vụ các nhiệm vụ cốt lõi cũng sẽ được xây dựng trong cùng giai đoạn.
Mô hình hoạt động của từng viện sẽ được sắp xếp lại thành ba nhóm gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và các nhiệm vụ đặc thù do chính phủ giao. Cách tiếp cận này nhằm giúp các viện giảm phụ thuộc vào việc cạnh tranh từng dự án đơn lẻ, từ đó duy trì hoạt động nghiên cứu ổn định hơn theo chiến lược trung và dài hạn.
Hợp tác liên viện cũng sẽ được tăng cường. Các viện sẽ cùng đặt ra mục tiêu chung theo từng lĩnh vực trọng điểm, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp nghiên cứu giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu.
Bên cạnh đó, các chương trình nghiên cứu chiến lược do địa phương dẫn dắt, dựa trên nhu cầu của chính quyền địa phương, cũng sẽ được đẩy mạnh. Mức độ phù hợp trong vận hành danh mục R&D của từng viện sẽ được đưa vào tiêu chí đánh giá tổ chức, và kết quả đánh giá sẽ được liên kết với ngân sách cũng như cơ chế khuyến khích.
Đối với mảng nghiên cứu chiến lược, cơ quan quản lý sẽ thiết lập hệ thống đánh giá và quản trị riêng để nâng cao trách nhiệm giải trình trong việc hoàn thành các mục tiêu nhiệm vụ.
Cơ chế đãi ngộ cũng sẽ thay đổi theo hướng rõ rệt. Thay vì gắn các khoản khuyến khích như phụ cấp nghiên cứu với quy mô nhiệm vụ được giao, hệ thống mới sẽ áp dụng mức chi trả phân hóa theo thành tích và kết quả nổi bật.
Trong dự thảo ngân sách chính phủ năm 2027, mức cải thiện đãi ngộ đối với các viện nghiên cứu công lập hiện tạm được phản ánh ở mức 3,9%. Chính phủ và NST cũng sẽ triển khai một cuộc khảo sát toàn diện để xây dựng phương án cải tổ hệ thống lương thưởng, qua đó thu hút nhân lực nghiên cứu chất lượng cao và hạn chế tình trạng chảy máu chất xám.
Hệ thống hỗ trợ hành chính cho hoạt động nghiên cứu cũng sẽ được điều chỉnh. Các chức năng hành chính dùng chung hiện phân tán ở từng viện sẽ được chuyên môn hóa và tập trung hơn về phía NST, trong khi bộ phận hỗ trợ nghiên cứu tại mỗi viện sẽ được tăng cường để bám sát nhu cầu của nhà nghiên cứu.
Song song với đó, cơ chế giám sát khi mở rộng vai trò của NST cũng sẽ được thiết kế, bao gồm đánh giá hoạt động đối với các tổ chức mới thành lập và mở rộng cả kiểm toán nội bộ lẫn kiểm toán bên ngoài. NST và các viện sẽ định kỳ trao đổi nhân sự, đồng thời xây dựng cơ chế thu thập ý kiến thực tiễn thông qua khảo sát định kỳ để phản ánh vào chính sách.
Chức năng thương mại hóa công nghệ cũng sẽ được tăng cường. Đầu mối TLO sẽ được chính thức hóa về mặt tổ chức để hỗ trợ các thương vụ chuyển giao công nghệ quy mô lớn và các dự án khởi nghiệp deeptech mà từng viện khó có thể tự triển khai.
Các cải cách thể chế cần thiết cho hoạt động thương mại hóa, trong đó có việc hoàn thiện quy định về xung đột lợi ích, cũng sẽ được thúc đẩy. Hoạt động truyền thông và hợp tác quốc tế vốn do từng viện tự thực hiện cũng sẽ được chuyển sang cơ chế phối hợp chung ở cấp liên viện.
Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin Hàn Quốc cùng NST cũng sẽ khởi động chuỗi “hội thảo chính sách lưu động”, bắt đầu từ Viện Nghiên cứu Công nghệ Năng lượng Hàn Quốc vào ngày 9/9. Đến ngày 11/9, định hướng triển khai tiếp tục được công bố tại cuộc họp tham vấn quản lý với sự tham gia của ban lãnh đạo NST và người đứng đầu 23 viện nghiên cứu công lập.
Chủ tịch NST Kim Young-sik nhấn mạnh thành bại của việc bãi bỏ PBS phụ thuộc vào mức độ triển khai thực chất của NST và các viện, đồng thời khẳng định sẽ hỗ trợ để các biện pháp tiếp theo được thực hiện thông suốt.
Thứ trưởng thứ nhất Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin Hàn Quốc Koo Hyuk-chae cho rằng các viện đã đến lúc phải tự đổi mới để thực hiện nhiệm vụ cốt lõi với vai trò là “cơ quan nghiên cứu đại diện quốc gia”. Ông cho biết chính phủ sẽ tiếp tục đối thoại với các đơn vị tại hiện trường để hoàn thiện chính sách, qua đó sớm đưa hệ thống hậu PBS vào quỹ đạo ổn định.